Ngày xưa ở Vạn Lai Triều thuộc trấn Sơn Nam, có một người lái buôn nước ngoài sang ta sinh cơ lập nghiệm. Sau mấy chục năm, nhờ có mánh khóe tích trữ, buôn lúc đầu mùa, bán khi giáp hạt, lãi mẹ để lãi con, hắn trở nên giàu có. Trong nhà hắn, vàng bạc châu báu kể có ức bạn, những tay vương hầu cơ hồ không ai ăn đứt.

  Khi trong tay đã có tiền ròng bạc chảy, hắn nghỉ đến chuyện chuyển của về nước để cho con cháu hắn ở bên đó hưởng. Nhưng ngặt một nỗi, hồi ấy triều đình ta có lệnh cấm nghiêm ngặt, không cho khác buôn nước ngoài đưa vàng bạc ra khỏi bờ cõi. Đã có nhiều người lén lút đưa ra nhưng không che được mắt nhà chức trách nên của cải bị tịch thu, còn người thì bị đuổi ra khỏi nước. Vì thế, hắn mới nghĩ cách chôn giấu một số bạc ở bên này để rồi ngày sau, chờ khi có cơ hội tốt, con cháu hắn sẽ sang lấy về. Hắn chuẩn bị việc đó rất kỹ lưỡng. Lấy cớ thờ phật, hắn sẽ xin phép làng sở tại dựng một ngôi chùa trên một cái đồi haong ở gần nhà hắn, Và trong khi đào móng làm chùa, hắn sẽ bí mật xây một cái hầm chôn của ăn sâu xuống đất, Còn biệc bảo đảm cho của khỏi mất, hắn sẽ tìm mổ người con gái đồng tring chôn luôn bên cạnh vàng bạc để làm thần giữ của cho hắn.  Nếu không phải người hô đúng tín hiệu mà hắn hước hẹn với thần thì đừng hòng đưa một ly của cải của hắn lên khỏi mặt đất. Thần sẽ vật chết bất cứ một người lạ nào đến cửa hầm. Sau khi mưu tính đã kỹ lưỡng, hắm bèn để ý đi tìm một người con gái đồng trinh. 

  Hồi ấy, ở trong vùng có một ông giám sinh, nhà không một mảnh đất cắm dùi. Ông có một người con gái tuổi mới mười tám, chưa có chồng. Nghe tin, người khách buôn vội mang cau rượu đến hỏi cô gái về làm vợ lẽ. Tuy biết hắn giàu có, con mình có thể được nương tựa, nhưng ông giám sinh không chút bằng lòng, vì không những ông không muốn gả con cho người nước ngoài mà ông còn gét cái thói con buôn, cho vay nặng lãi của những bọn như hắn. Hắn cũng biết thế, bèn đặt lên mâm 100 lạng vàng, nói là xin đưa làm sính lể. Trong thấy những nén vàng sáng chói, ông giám sinh nghỉ đến mấy món nọ chưa cách gì trả được. Cuối cùng ông đành nhận lời gả con cho hắn.

  Từ khi lấy vợ về, người khách buôn cho nàng ở một buồng riêng. Hắn rất chăm chút, rất ghen tuông, nhưng có một điều là chẳng bao giờ ăn nằm với nàng. Cả đến cá thịt, hành tỏi, hắn cũng không cho ăn, lấy cớ là phải ăn chay niệm phật. Ba tháng một lần, hắn lại cho nàng một bộ xống áo mới.

  Cứ như thế sau hai năm, cô gái vẫn phòng không bóng chiếc.

  Một hôm, nàng cố xin phép chồng về nhà thăm cha. Hắn từ chối mãi không được, bất đắc dĩ phải để cho đi nhưng căn dặn phải kiêng khem và phải trở về ngay. Cha con lâu ngày không gặp, mừng mừng tủi tủi, ông giám sinh tỉ tê hỏi: 

  - Từ khi con ra đi, cha rất hối hận. Nếu nhà ta không túng đói thì con đâu chịu cảnh lẻ mọn này. Vậy thường ngày nó đối đãi với con ra làm sao? Vì sao về đã hai năm vẫn chưa sinh nở gì cả?

  Nghe cha hỏi thế, cô gái khóc lóc kể hết sự tình. Ông giám sinh ngạc nhiên:

  - Thôi rồi! Chắc là nó chọn con làm thần giữ của, không nghi ngờ gì nữa. Vậy con thấy trong nhà nó có chuyện gì lạ không? 

  - Trước kia, ăn cơm tối xong là nó khóa của ngủ ngay. Chỉ có độ vài tháng nay, tối nào cũng thấy bố con nhà nó vác cuốc thuổng đi, gần sáng mới lại về.

  Nghe nói, ông giám sinh kêu lên: "Thế là việc sắp đến nơi rồi đó!". Suy nghỉ một chóc, ông đi lấy hạt vừng và hạt cải gói lại một gói, đưa cho con và dặn rằng:

 - Con hãy về sớm cho nó khỏi nghi ngờ. Hễ lúc nào nó đem con đi đâu thì nhớ rắc những hạt này xuống bên lối đi, để cho cha biết mà tìm.

  Từ đó, ông giám sinh đến thăm con luôn. Có khi ba ngày một lần, có khi năm ngày một lần. Ông không vào nhà con rể, chỉ đứng ngoài cổng nhìn vào. Hễ thấy mặt con gái, ông mới yên tâm lui gót.

  Một lần ông dở bận chút việc chưa đến được. Mãi mười ngày sau ông mới tới thì không thấy bóng con đâu nữa. Chờ lâu sốt ruột, ông vội bước vào nhà con rể, làm bộ tới thăm. Người lái buôn thấy ông đến, lăng xăng tiếp đón ra chừng thân mật. Hắn cho ông biết là vợ mình còn bận lên kinh đô cất hàng chưa về. Ông giám sinh vẫn giữ vẻ mặt tự nhiên, nhận lời mời của con rể ngồi lại ăn cơm trưa. Thừa dịp đi tiểu, ông ra sau vườn nhìn quanh nhìn quất, quả thấy hai bên lối đi dẫn ra đồng, vừng và cải đã mọc xanh lăng tăng như đánh giấu. 

  Lập tức, ông đi một mạch đến dinh trấn sơn nam. Trước mặt quan trấn thủ, ông trình bày mọi việc xảy ra. Quan trấn thủ liền điểm lấy 500 quân sĩ đi suốt đêm về Vạn Lai Triều. Cho đòi người lái buôn nước ngoài đến đối chất thì hắn chối lấy chối để. Người ta theo chân ông giám sinh lần theo con đường mà vừng và cải đã kín đáo mách hộ, đi cách nhà khách chừng nữa dặm, thì đã thấy một cái am con vừa mới xây xong trên một cái đồi hoang. Ông giám sinh thưa: 

  - Hẳn chỗ này chứ không sai. Xin cho đào lên để phán!

  Nhưng người con rể của ông nhất định không chịu. Hắn lấy cớ động mạch đất có quan hệ vận với vận mệnh nhà hắn nên có tình không cho lính đào.

  Liền đó, quan trấn thủ bắt hai bên làm tờ cam kết. Nếu đào không thấy gì, thì ông giám sinh phải bỏ tiền ra xây lại am và phải bồi thường thiệt hại cho chàng rể. Trái lại, nếu phát hiện được tiền nong của cải gì, thì người làm chủ cái am đó không được nhận. Giấy làm xong, người khách buôn không chịu ký, nhưng cũng nhất định không chịu thú nhận. Thấy thế, quan càng ngờ vực, liền hạ lệnh cho lính cứ đào ngay, sự chủ muốn hay không cũng mặc. 

  Mới đào được một khoảng rộng bằng cái nong thì đã thấy hiện ra một bờ gạch xây chìm. Bờ gạch chạy dài chừng một giang nhà, sâu xuống ngập đầu người, trên xây theo lối cuối bằng gạch bát tràng rất kiên cố.

  Trong khi người khách buôn lăn ra khóc nức nở thì một toáng lính đã tìm được cửa hầm. Lớp gạch vừa đổ xuống thì đã hiện ra ánh sáng le lói của hai ngọn đèn. Họ đi lần vào thì thấy cô gái ngồi bên cạnh đèn, trên một chiếc ghế dựa bằng đá, đầu gục xuống, hai chân giang ra hai bên, mỗi chân đạp lên một cái cong lớn. Ông giám sinh mếu máo ôm chầm lấy con. Nhưng ông không sao nhấc con lên được vì hai tay cô gái bị trói vào bành ghế mà miệng thì bị gắn kín bằng nhựa. Nạy nhựa ra thấy trong đó có một củ sâm chưa tan hết. Ngực nàng vẫn còn đập thoi thóp. Người ta vội vực lên để cứu chữa, đồng thời đóng gong tên lái buôn gian ác giải đi. 

  Khi toán lính soát mọi vật thì thấy hai cái cân mà cô gái đạp chân lên, mỗi cong có đề mấy chữ: "Một nghìn cân hoàng kim". Bên tả bên hữu có hai dãy cong nhỏ, mỗi dãy mười cái, ngoài đều có chữ đề: "Năm trăm cân bạch kim". Mở ra điểm lại, đúng như số đã đề. Hai cây đèn cũng một bằng vàng, một bằng bạc.

Nhờ sự chăm sóc chu đáo nên cô gái dần dần tỉnh lại. Nghe kể chuyện, người ta mới biết là cô bị chôn sống đã được mười ngày. Quan trấn thủ chia số của cải đó ra làm ba. Cha con ông giám sinh được hưởng một phần, còn bao nhiêu tịch thu làm của công. Còn người lái buôn bị đem ra pháp trường xử trảm bằng cẩu đầu trảm.